Chiêm nghiệm Cẩn trọng (Critical Reflection)

Mục tiêu:
-          Nắm bắt được khái niệm: chiêm nghiệm và chiêm nghiệm cẩn trọng.
-          Xác định được các yếu tố cần thiết cho việc chiêm nghiệm.
-          Chỉ rõ được các biến ảnh hưởng để khuyến khích việc chiêm nghiệm.
-          Xây dựng được các thức bồi dưỡng việc chiêm nghiệm.
-          Áp dụng được các chiến lược chiêm nghiệm cẩn trọng.

Nội dung:

1.      Khái niệm:
-          Chiêm nghiệm: là việc tư duy cẩn trọng để liên kết các kinh nghiệm hiện tại với quá khứ nhằm đưa ra một lược đồ tư duy có mối liên hệ chặt chẽ và phức tạp hơn. Mục tiêu là để phát triển những kĩ năng tư duy cao hơn.
-          Chiêm nghiệm cẩn trọng: là quá trình phân tích, xem xét lại và đặt câu hỏi cho những lần trải nghiệm trong bối cảnh mở rộng của vấn đề (ví dụ: vấn đề liên quan: sự công bằng xã hội, phát triển chương trình giảng dạy, lý thuyết học tập, chính sách, văn hóa…).
Có 4 hoạt động là trung tâm của sự chiêm nghiệm cẩn trọng (Brookfield, 1988):
             •     Phân tích giả định.
             •     Nhận thức theo bối cảnh.
             •     Suy đoán tưởng tượng.
             •     Chiêm nghiệm hoài nghi.

2.      Các yếu tố cần thiết việc cho chiêm nghiệm:
Hatton và Smith (1995) xác định được 4 yếu tố cốt yếu liên quan đến việc chiêm nghiệm:
•       Định hình và điều chỉnh các vấn đề phức tạp, không rõ ràng, thử áp dụng các cách diễn giải khác nhau, rồi thì nhờ đó mà thay đổi hành động của chúng ta.
•       Mở rộng và hệ thống các cách suy nghĩ bằng cách nhìn lại hành động của chúng ta sau khi diễn ra được một thời gian.
•        Sử dụng các tạp chí chuyên ngành hoặc thảo luận nhóm kèm theo những trải nghiệm thực tế để giải quyết các vấn đề cụ thể.
•        Điều chỉnh các vấn đề thực tế bằng việc nhìn nhận những giá trị lịch sử, văn hóa, chính trị hay niềm tin rộng hơn để tìm ra giải pháp.

3.      Khuyến khích việc chiêm nghiệm:
Hầu hết các nhà giáo dục học tin rằng: “việc chiêm nghiệm có ích cho quá trình học tập, thậm chí không cần có các dữ liệu nghiên cứu hỗ trợ”. Tuy nhiên, khó mà có thể khuyến khích học viên chiêm nghiệm. Gustafason và Bennette (1999) qua nghiên cứu đã xác định được 11 biến có ảnh hưởng đến việc thiếu các hành vi chiêm nghiệm của học viên. Các biến này được nhóm thành 3 nhóm chính:
•  Người học:
-          Kĩ năng và kinh nghiệm của người học về chiêm nghiệm cẩn trọng.
-          Sự hiểu biết rộng của người học về nội dung chủ đề.
-          Động cơ của người học để hoàn thành bài tập chiêm nghiệm.
-          Sự chuẩn bị tinh thần cho việc chiêm nghiệm.
-          Mức độ an toàn cảm nhận được giữa việc báo cáo sự chiêm nghiệm thực tế với những điều mong đợi nhận được.
•  Môi trường:
-          Môi trường vật chất.
-          Môi trường tương tác giữa các cá nhân.
•  Các nhiệm vụ chiêm nghiệm:
-          Bản chất của những câu hỏi kích thích, sự hướng dẫn hoặc khảo sát.
-          Hình thức yêu cầu cho bài chiêm nghiệm.
-          Chất lượng của các phản hồi sau các bài chiêm nghiệm.
-          Kết quả của việc chiêm nghiệm.

4.      Bồi dưỡng việc chiêm nghiệm:
Nghiên cứu của Hatton và Smith (1995) với những cặp bạn chí cốt đã xác định khuôn khổ cho 4 dạng bài viết, cái đầu tiên là không có chiêm nghiệm, trong khi 3 loại còn lại được mô tả như những loại chiêm nghiệm khác nhau:
-          Bài viết mô tả (không chiêm nghiệm) thuật lại các sự kiện.
-          Chiêm nghiệm có mô tả.
-          Chiêm nghiệm qua hình thức đối thoại.
-          Chiêm nghiệm cẩn trọng.
Từ đó xác định ra được 4 cách thức để bồi dưỡng việc chiêm nghiệm:
     ♦   Nghiên cứu hành động.
     ♦   Tình huống và các nghiên cứu văn hóa.
     ♦   Những trải nghiệm thực tế
     ♦   Các bài tập trong chương trình giảng dạy
►  Đọc tiểu thuyết và phi tiểu thuyết
►  Phỏng vấn miệng
►  Các bài tập viết như: tự truyện, tiểu sử, bài cảm nhận, và viết cho tạp chí chuyên đề.

5.      Chiến lược chiêm nghiệm cẩn trọng:
     ♦   Tự hỏi tại sao một điều gì đó xảy ra, hoặc tại sao một điều gì đó không xảy ra?
     ♦   Tự hỏi cái gì tốt, xấu,tại sao?
     ♦   Nghĩ về các giải pháp thay thế.
     ♦   Tìm kiếm các cách nhìn vấn đề khác.
     ♦   Xem xét điều gì đó qua cách thu thập các phần (các mối quan hệ), cũng như tiêu chuẩn chất lượng (ví dụ: các giá trị và phán xét).
     ♦   Nhìn theo cách nhìn ngược lại.
     ♦   Tự hỏi ai có thể có lợi và ai có thể bất lợi.

Kết luận:
Một bài chiêm nghiệm đừng bị cuốn hút vào việc chỉ viết xuống những thứ bạn có thể nghĩ đến từ việc giảng dạy của riêng bạn hoặc việc học của riêng bạn, hay đơn giản là kể lại chuyện đã xảy ra. Phân tích các trải nghiệm của bạn để khám phá ra những ý tưởng hay những ý niệm mà nằm đằng sau chúng, hoặc những lý thuyết mà bạn đã học mà có thể ứng dụng được. Do đó, đừng bao giờ chỉ kể chuyện: luôn luôn sử dụng một sự kiện như là cách để liên hệ với một ý tưởng hoặc lý thuyết. Sau đó sắp xếp các ý vào bài chiêm nghiệm theo những khái niệm này.

Một lần nữa, đây là sự chuẩn bị tốt cho nghề nghiệp bây giờ hoặc sau này của bạn. Tìm kiếm các khái niệm sau kinh nghiệm là một khả năng mà bạn phải có với tư cách là giảng viên đại học. Khả năng chiêm nghiệm tốt sẽ giúp bạn dạy các khái niệm sâu hơn. Nếu sinh viên có khó khăn trong việc nhận thức hay trong công việc, bạn sẽ có khả năng giúp họ tốt hơn bằng cách phân tích các khái niệm đằng sau cái mà bạn dạy để tìm ra giải pháp.

Đồng Thị Hà Linh